Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội tỉnh Bắc Giang năm 2018

Ngày 01 tháng 12 năm 2017, Tỉnh ủy Bắc Giang đã ban hành Nghị quyết số 251-NQ/TU về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2018.

1- Mục tiêu tổng quát

Tiếp tục tăng cường chỉnh đốn, xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh. Đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở; hiệu quả thực thi pháp luật và phòng chống tham nhũng, lãng phí. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát triển toàn diện các ngành kinh tế, các lĩnh vực văn hóa - xã hội, phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đề ra. Thực hiện tốt công tác bảo đảm an sinh xã hội; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Củng cố vững chắc quốc phòng; giữ vững ổn định an ninh, trật tự trên địa bàn.

2- Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu năm 2018

- Tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 13%. Cơ cấu kinh tế: Công nghiệp - Xây dựng: 46,8%; dịch vụ: 33,4%; nông, lâm nghiệp, thủy sản: 19,8%.

- GRDP bình quân đầu người đạt 2.100 USD.

- Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt trên 6.368 tỷ đồng.

- Huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 40 nghìn tỷ đồng.

- Kim ngạch xuất khẩu đạt 7,8 tỷ USD, nhập khẩu 7,5 tỷ USD.

- Giá trị sản xuất trên 1 ha đất nông nghiệp đạt 95-100 triệu đồng.

- Tỷ lệ dân số đô thị đạt 19,3%.

- Số lượng khách du lịch đến tỉnh đạt 1,5 triệu lượt người.

- Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới 43,1%, tăng 20 xã so với năm 2017.

- Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia khoảng 85%.

- Tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020 đạt 96,5%. Số giường bệnh/vạn dân đạt 24,6 giường; Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 97%.

- Tỷ lệ hộ gia đình văn hóa đạt 87%; làng, bản, tổ dân phố văn hóa đạt 70%; xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới 39,7%.

- Tỷ lệ hộ nghèo giảm 2% so với năm 2017, còn 7,55%.

- Số lao động được giải quyết việc làm 29.400 người, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 62,5%.

- Tỷ lệ chất thải rắn được thu gom đạt 60,5%, trong đó tỷ lệ chất thải rắn được thu gom được xử lý hợp vệ sinh đạt 90,9%.

- Tỷ lệ che phủ rừng (không tính diện tích cây ăn quả) đạt 37,3%.

(Phan Xuân Văn)